Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Cô phù thủy nhỏ (Otfried Preußler)


Cô phù thủy nhỏ có điều bực bội

Ngày xửa ngày xưa, có một cô phù thủy nhỏ mới đang ở tuổi một trăm hai mươi bảy, cái mốc còn chưa được tính là tuổi đối với phù thủy. Cô sống trong một căn nhà dành cho phù thủy nằm đơn độc nơi rừng sâu. Bởi thuộc về một cô phù thủy nhỏ nên căn nhà cũng không lớn cho lắm. Tuy nhiên, với cô phù thủy nhỏ, như vậy đã là đủ, thậm chí cô còn chẳng mong cho mình căn nhà nào đẹp hơn thế. Nhà của cô có kiểu mái xiên xẹo diệu kì, có một ống khói cong cùng các cửa chớp cửa sổ xập xệ. Phía sau nhà xây một lò nướng. Công trình nhỏ này không đời nào được phép vắng mặt. Nhà của phù thủy mà không có lò nướng thì sẽ không phải một căn nhà phù thủy đúng nghĩa. Cô phù thủy nhỏ có một con quạ biết nói. Tên nó là Abraxas. Nó không chỉ biết ré lên câu “Chào buổi sáng!” và “Chào buổi tối!” như một con quạ bình thường đã học nói mà còn sử dụng được mọi câu từ khác nữa. Cô phù thủy nhỏ rất coi trọng nó, vì nó là một con quạ thông thái khác thường luôn thẳng thắn bày tỏ quan điểm với cô trong mọi việc. Cô phù thủy nhỏ dành tầm sáu giờ mỗi ngày để luyện tập phép thuật. Phép thuật của phù thủy không đơn giản đâu. Muốn thành công thì không thể lười biếng. Cần học hết những phép thuật nhỏ trước rồi sau đó đến những phép phức tạp. Cần nghiên cứu từng trang của cuốn sách phù thủy, không được bỏ qua bất kì nhiệm vụ nào. Cô phù thủy nhỏ mới chỉ học tới trang hai trăm mười ba của cuốn sách. Cô hiện đang luyện phép gọi mưa. Cô ngồi trên băng ghế trước lò nướng, sách đặt trên đầu gối và tập niệm thần chú. Con quạ Abraxas ngồi kế bên, tỏ ra không hài lòng. “Cậu phải tạo ra một cơn mưa”, nó ré lên đầy trách móc, “thế mà cậu lại niệm thần chú gì vậy chứ? Lần đầu khiến toàn chuột bạch rơi xuống, lần sau là ếch, sau nữa là quả lãnh sam! Tôi tò mò đấy, không biết liệu ít nhất thì lần này cậu có làm ra mưa đúng nghĩa được không đây!”

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Những ngày niên thiếu (Christian Friedrich Hebbel)

1
Hồi tôi ra đời, cha tôi có một ngôi nhà nhỏ nằm liền bên một khu vườn con trồng vài loại cây ăn trái, nổi bật là một cây lê sum suê, tươi tốt. Ngôi nhà có ba căn hộ, gia đình tôi sống trong căn hộ rộng rãi và dễ chịu nhất; lợi thế chính của nó là vị trí đón ánh nắng mặt trời. Hai căn hộ còn lại chúng tôi cho thuê; căn hộ đối diện chúng tôi có ông thợ xây già Claus Ohl cùng bà vợ gù thấp bé sinh sống, còn căn hộ thứ ba - nơi lối đi sau chạy qua khu vườn và dẫn vào - là của một gia đình lao động tự do. Những người thuê nhà không bao giờ chuyển đi, đối với bọn trẻ chúng tôi, họ cũng thuộc về ngôi nhà giống như cha và mẹ, cũng gần như hoặc tuyệt đối không khác gì cha mẹ cách giao tiếp đầy thương mến với chúng tôi. Vườn của gia đình tôi được bao bọc bởi những khu vườn khác. Một bên là vườn của bác thợ mộc vui tính hay thích trêu chọc tôi, người mà cho đến ngày hôm nay tôi vẫn không tài nào hiểu nổi làm sao lại có thể tự sát - một hành động về sau này bác đã thực hiện. Có lần, khi còn là một cậu nhóc bé xíu, tôi chìa bộ mặt già đời của mình qua hàng rào và nói với bác: “Hàng xóm này, trời lạnh lắm đấy!” và bác đã không tiếc hơi sức nhắc đi nhắc lại câu đó với tôi, đặc biệt trong những tháng hè nóng nực.

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2016

Câu chuyện về hội săn tìm kho báu (Edith Nesbit)




CHƯƠNG 1. HỘI ĐỒNG CÁCH THỨC VÀ PHƯƠNG TIỆN

Đây là câu chuyện nói về những cách khác thức nhau mà chúng tôi kiếm tìm kho báu, và tôi tin khi các bạn đã đọc nó xong rồi, các bạn sẽ thấy chúng tôi không hề lười biếng trong chuyện tìm kiếm.
Có một vài điều tôi cần nói với các bạn trước khi kể tới phần tìm kho báu, bởi vì bản thân tôi cũng đọc sách và tôi hiểu sẽ bực mình ra sao nếu một câu chuyện bắt đầu kiểu: “Lạy Chúa!”, Hildegarde nói kèm theo cái thở dài, “chúng ta phải xem xét thêm một lần cuối ngôi nhà tổ tiên để lại này thôi” - rồi ai đó nói gì đó, rồi qua hàng bao nhiêu trang, các bạn vẫn chẳng biết ngôi nhà ở đâu hay Hildegarde là ai, hay bất kì thông tin gì về việc ấy cả. Ngôi nhà tổ tiên để lại cho chúng tôi nằm ở đường Lewisham. Nó là nhà song lập, có một khu vườn, không phải kiểu vườn rộng. Chúng tôi mang họ Bastable. Ngoài cha ra thì chúng tôi bao gồm sáu anh chị em. Mẹ chúng tôi đã mất, và nếu các bạn cho rằng chúng tôi chẳng quan tâm vì tôi không nhắc nhiều đến bà, điều ấy chỉ thể hiện các bạn chẳng hiểu một chút nào về con người hết. Dora là chị cả. Sau đến Oswald, rồi Dicky. Oswald đã giành giải tiếng La-tinh ở trường dự bị, còn Dicky thì giỏi tính toán. Alice và Noel là anh em sinh đôi: cả hai mười tuổi, Horace Octavius là đứa em út của tôi. Một trong số chúng tôi là người đang kể chuyện, song, tôi sẽ không cho các bạn biết đó là ai: có lẽ chỉ đến cuối câu chuyện tôi mới tiết lộ. Trong lúc câu chuyện diễn ra, có khả năng các bạn sẽ cố đoán, có điều tôi cược là các bạn chẳng đoán ra đâu.

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Không quê nhà ... Bên hồ Sils và hồ Garda (Johanna Spyri)


Chương 1
Trong ngôi nhà tĩnh lặng

Nằm ở vùng thượng của thung lũng Engadin, kề bên con đường lớn đi lên phía đèo Maloja là một ngôi làng nhỏ đơn độc mang tên Sils. Rời khỏi đường lớn, đi chéo qua làng, và ở phía đằng sau, rất gần với  những ngọn núi, ta bắt gặp một chốn nhỏ xinh tên là Sils-Maria. Tại đây có hai căn nhà nhỏ được xây đối diện nhau, hơi tách sang một bên cánh đồng. Cửa ra vào cả hai nhà đều làm bằng gỗ, đã rất xưa cũ, mấy cửa sổ bé xíu thì nằm phía sâu trong tường. Một trong hai căn nhà có khoảnh vườn trồng toàn các loại rau họ cải, ngoài ra còn đặt thêm bốn chậu hoa, tuy nhiên trông chúng khẳng khiu và lớn nhanh chẳng khác gì đám rau. Căn nhà còn lại chỉ có độc một cái chuồng con con cạnh cửa, với hai cô gà mái quanh ra quanh vào. Nó nhìn khá khiêm tốn so với căn kia, cánh cửa gỗ sạm đen lại vì năm tháng.
Từ sau cánh cửa này, sáng nào cũng vào một giờ nhất định, luôn có một người đàn ông cao lớn bước ra - người phải cúi xuống mới đi qua cửa được. Người đàn ông cao lớn có mái tóc đen bóng, mắt đen, dưới chiếc mũi thanh tú còn tọa lạc thêm bộ râu đen, xum xuê đến nỗi chẳng thể trông thấy gì khác trên phần còn lại của gương mặt người này ngoài hàm răng trắng sáng lóe lên giữa bộ râu mỗi khi anh nói; song, anh lại rất ít khi mở lời. Ai ai ở làng Sils cũng biết anh, nhưng không người nào gọi anh bằng một cái tên, mà với họ, anh chỉ là "anh người Ý". Anh thường đi con đường hẹp chếch về hướng làng Sils và lên phía đèo Maloja. Ở đó có nhiều công trình được xây dựng bên đường lớn, cũng là chỗ anh làm việc. Khi không đi lên phía trên, anh sẽ xuống khu nghỉ dưỡng St. Moritz; tại đấy, người ta xây nhà xây cửa, còn anh thì cũng tìm được việc để làm. Anh lưu lại chỗ ấy cả ngày, chỉ quay về ngôi nhà nhỏ vào buổi tối. Thông thường, mỗi lần anh bước ra khỏi cửa, luôn có một cậu bé ở đằng sau anh; cậu bé đứng trên bậu cửa, lúc cha đã ở bên ngoài, dõi theo cha một hồi lâu bằng đôi mắt to, sẫm màu, hoặc nhìn đi đâu đó, chẳng ai đoán được, bởi có cảm giác như đôi mắt sẫm màu ấy vượt lên tất cả mọi cảnh vật ở trước mặt và hướng đến một thứ gì đó không ai có khả năng nhìn thấy.

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Đất nước có tên Nonamia (Evelyn Sharp)

1.
Cách đây rất, rất lâu rồi, có một vị pháp sư lơ đãng sống ở đất nước Nonamia diệu kì. Dĩ nhiên, chuyện một pháp sư mà lại lơ đãng thì quả có không bình thường thật, thế nhưng nếu bình thường thì nó đã chẳng xảy ra ở Nonamia. Không ai biết rõ lắm về vị pháp sư này, bởi ông ta sống trong tòa lâu đài trên không của mình, và tới thăm một người sống trên không vốn đâu có dễ dàng gì. Song, bản thân ông ta cũng không muốn có ai tới thăm cả; khách khứa luôn đồng nghĩa với trò chuyện, mà ông ta lại không chịu đựng nổi việc chuyện trò. Điều này thật ra chẳng có gì đáng ngạc nhiên, ấy là vì ông ta lơ đãng tới mức luôn quên mất phần cuối câu nói của mình trước khi sắp nói xong phần đầu; còn về những lời bình phẩm của khách khứa… ừm, nếu ông ta từng có khách tới thăm, ông ta sẽ không đời nào chịu nghe những bình phẩm của họ đâu. Thế nên, đến một ngày khi có ai đó gọi mình, - chuyện đấy diễn ra vào thời điểm ông ta đã sống ở lâu đài trên không được bảy trăm bảy mươi bảy năm trời và hầu như quên hẳn mình là ai cũng như tại sao mình lại ở đó, - vị pháp sư sửng sốt đến nỗi không nghĩ ra nổi điều gì để nói.
“Làm sao cô tới được đây?”, cuối cùng ông ta hỏi; bởi vì ngay cả một pháp sư lơ đãng cũng không thể tiếp tục im lặng tuyệt đối được nếu nhìn ra khỏi tòa lâu đài và thấy một nàng công chúa trong bộ váy vàng và bạc, trên đầu đội một vương miện nhỏ sáng lấp lánh, bồng bềnh đi qua trên một đám mây trắng mềm mại.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Lớp học bay (Erich Kästner)

Mở đầu 
Phần một

Lần này, đó sẽ là một câu chuyện giáng sinh đúng nghĩa.
Thực ra, tôi đã định viết câu chuyện này từ hai năm trước, và sau đó, chắc chắn là thế, năm ngoái cũng vậy. Nhưng sự tình là luôn có một chuyện gì đó xen vào. Cho tới khi mẹ tôi mới đây có bảo:
"Nếu năm nay con không viết, con sẽ không nhận được quà gì cho giáng sinh đâu!"
Và thế là mọi sự được quyết định. Tôi nhanh chóng thu xếp va-li của mình, cho cây vợt tennis, đồ bơi, cây bút chì xanh lá cùng vô kể giấy viết vào trong và đưa ra câu hỏi, khi chúng tôi đứng vã mồ hôi và mệt lử ở khu nhà chờ của ga tàu:
"Giờ thì đi đâu đây ạ?" Vì dễ hiểu là rất khó để sáng tác một câu chuyện giáng sinh vào thời điểm nóng nực nhất của mùa hè. Người ta không thể nào nghiêm túc bắt tay vào viết: "Trời lạnh buốt, tuyết rơi thành dòng, và ông bác sĩ Eisenmeier  đông cứng cả hai dái tai khi nhìn ra cửa sổ"… ý tôi là chuyện như thế dẫu cho có quyết tâm hết mức cũng không thể viết ra vào tháng tám được, khi mà người ta đang nằm trong bồn tắm như miếng thịt hầm và chờ đợi cơn say nắng! Phải không nào? Phụ nữ rất thực tế. Mẹ tôi đã có cách. Bà bước đến bên quầy vé, gật đầu thân thiện với người nhân viên và hỏi: "Xin lỗi, cho hỏi ở đâu thì có tuyết trong tháng tám nhỉ?"
"Ở Bắc cực", người đàn ông thoạt đầu đã định nói vậy, nhưng rồi anh ta nhận ra mẹ tôi, liền nén câu trả lời tự phát của mình lại và lịch sự: "Trên núi Zugspitze, thưa bà Kästner."
Và thế là tôi phải mua một vé đến Oberbayern ngay lập tức. Mẹ còn dặn thêm: "Đừng về mà không có câu chuyện giáng sinh đấy nhé! Lúc nào thấy nóng quá, con cứ ngắm nhìn lớp tuyết đẹp lạnh giá trên núi Zugspitze ấy! Con hiểu chưa?" Mẹ nói đến đây thì đoàn tàu khởi hành.
"Đừng quên gửi quần áo về nhà nhé", mẹ tôi gọi với theo sau.
Tôi gào to hòng chọc giận mẹ đôi chút: "Và mẹ hãy tưới nước cho hoa nhé!" Đoạn, chúng tôi giơ khăn tay vẫy chào nhau cho tới lúc không thấy bóng dáng của nhau nữa.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Nhà Bulemann (Theodor Storm)



 * * *

Ở một thành phố biển miền bắc nước Đức, trên con phố được gọi là Tăm Tối, có một ngôi nhà cũ nát. Ngôi nhà tuy hẹp thôi nhưng có ba tầng; ở giữa, kéo dài từ dưới đất lên gần đến đỉnh đầu hồi, tường nhà lồi ra thành một kiểu kiến trúc ban công vịnh có xây cửa sổ đằng trước và hai bên cho mỗi tầng, để ánh trăng có thể chiếu vào trong những đêm quang đãng. Từ lâu lắm rồi, chẳng có ai đi vào và cũng chẳng có ai ra khỏi ngôi nhà này cả; cái vòng gõ cửa nặng nề bằng đồng thau trên cánh cửa gần như phủ toàn gỉ xanh, giữa các kẽ đá bậc thềm nhà, cỏ mọc năm này qua năm khác. Nếu có người lạ nào hỏi: "Nhà đó là nhà kiểu gì thế?" thì chắc chắn anh ta sẽ nhận được câu trả lời: "Nhà Bulemann"; nhưng nếu anh ta hỏi tiếp: "Ai sống ở đó?", người ta cũng sẽ lại đáp quả quyết: "Chẳng ai sống ở đó hết." Lũ trẻ chạy chơi trên đường và các bà vú nuôi ngồi bên nôi hát rằng:
             Ở nhà Bulemann,
             Ở nhà Bulemann,
             Lũ chuột ngó lan man
             Qua cửa sổ ra tận lan can.
Và quả thực, mấy anh bạn vui tính đi ngang qua đó sau những bữa tiệc đêm đã nghe thấy tiếng ré như của vô vàn con chuột đằng sau các cửa sổ tối đen. Một anh trong cơn cao hứng đập cái vòng gõ cửa đặng nghe âm thanh dội lại qua những căn phòng trống còn khẳng định mình nghe được rất rõ ràng tiếng nhảy nhót của những con thú lớn trên cầu thang trong nhà. "Gần như là", anh chàng kể điều này thường xuyên thêm vào, "tiếng nhảy của những con thú ăn thịt to lớn trong rạp trưng bày ở chợ trước tòa thị chính ấy."