Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Lớp học bay (Erich Kästner)

Mở đầu 
Phần một

Lần này, đó sẽ là một câu chuyện giáng sinh đúng nghĩa.
Thực ra, tôi đã định viết câu chuyện này từ hai năm trước, và sau đó, chắc chắn là thế, năm ngoái cũng vậy. Nhưng sự tình là luôn có một chuyện gì đó xen vào. Cho tới khi mẹ tôi mới đây có bảo:
"Nếu năm nay con không viết, con sẽ không nhận được quà gì cho giáng sinh đâu!"
Và thế là mọi sự được quyết định. Tôi nhanh chóng thu xếp va-li của mình, cho cây vợt tennis, đồ bơi, cây bút chì xanh lá cùng vô kể giấy viết vào trong và đưa ra câu hỏi, khi chúng tôi đứng vã mồ hôi và mệt lử ở khu nhà chờ của ga tàu:
"Giờ thì đi đâu đây ạ?" Vì dễ hiểu là rất khó để sáng tác một câu chuyện giáng sinh vào thời điểm nóng nực nhất của mùa hè. Người ta không thể nào nghiêm túc bắt tay vào viết: "Trời lạnh buốt, tuyết rơi thành dòng, và ông bác sĩ Eisenmeier  đông cứng cả hai dái tai khi nhìn ra cửa sổ"… ý tôi là chuyện như thế dẫu cho có quyết tâm hết mức cũng không thể viết ra vào tháng tám được, khi mà người ta đang nằm trong bồn tắm như miếng thịt hầm và chờ đợi cơn say nắng! Phải không nào? Phụ nữ rất thực tế. Mẹ tôi đã có cách. Bà bước đến bên quầy vé, gật đầu thân thiện với người nhân viên và hỏi: "Xin lỗi, cho hỏi ở đâu thì có tuyết trong tháng tám nhỉ?"
"Ở Bắc cực", người đàn ông thoạt đầu đã định nói vậy, nhưng rồi anh ta nhận ra mẹ tôi, liền nén câu trả lời tự phát của mình lại và lịch sự: "Trên núi Zugspitze, thưa bà Kästner."
Và thế là tôi phải mua một vé đến Oberbayern ngay lập tức. Mẹ còn dặn thêm: "Đừng về mà không có câu chuyện giáng sinh đấy nhé! Lúc nào thấy nóng quá, con cứ ngắm nhìn lớp tuyết đẹp lạnh giá trên núi Zugspitze ấy! Con hiểu chưa?" Mẹ nói đến đây thì đoàn tàu khởi hành.
"Đừng quên gửi quần áo về nhà nhé", mẹ tôi gọi với theo sau.
Tôi gào to hòng chọc giận mẹ đôi chút: "Và mẹ hãy tưới nước cho hoa nhé!" Đoạn, chúng tôi giơ khăn tay vẫy chào nhau cho tới lúc không thấy bóng dáng của nhau nữa.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Nhà Bulemann (Theodor Storm)



 * * *

Ở một thành phố biển miền bắc nước Đức, trên con phố được gọi là Tăm Tối, có một ngôi nhà cũ nát. Ngôi nhà tuy hẹp thôi nhưng có ba tầng; ở giữa, kéo dài từ dưới đất lên gần đến đỉnh đầu hồi, tường nhà lồi ra thành một kiểu kiến trúc ban công vịnh có xây cửa sổ đằng trước và hai bên cho mỗi tầng, để ánh trăng có thể chiếu vào trong những đêm quang đãng. Từ lâu lắm rồi, chẳng có ai đi vào và cũng chẳng có ai ra khỏi ngôi nhà này cả; cái vòng gõ cửa nặng nề bằng đồng thau trên cánh cửa gần như phủ toàn gỉ xanh, giữa các kẽ đá bậc thềm nhà, cỏ mọc năm này qua năm khác. Nếu có người lạ nào hỏi: "Nhà đó là nhà kiểu gì thế?" thì chắc chắn anh ta sẽ nhận được câu trả lời: "Nhà Bulemann"; nhưng nếu anh ta hỏi tiếp: "Ai sống ở đó?", người ta cũng sẽ lại đáp quả quyết: "Chẳng ai sống ở đó hết." Lũ trẻ chạy chơi trên đường và các bà vú nuôi ngồi bên nôi hát rằng:
             Ở nhà Bulemann,
             Ở nhà Bulemann,
             Lũ chuột ngó lan man
             Qua cửa sổ ra tận lan can.
Và quả thực, mấy anh bạn vui tính đi ngang qua đó sau những bữa tiệc đêm đã nghe thấy tiếng ré như của vô vàn con chuột đằng sau các cửa sổ tối đen. Một anh trong cơn cao hứng đập cái vòng gõ cửa đặng nghe âm thanh dội lại qua những căn phòng trống còn khẳng định mình nghe được rất rõ ràng tiếng nhảy nhót của những con thú lớn trên cầu thang trong nhà. "Gần như là", anh chàng kể điều này thường xuyên thêm vào, "tiếng nhảy của những con thú ăn thịt to lớn trong rạp trưng bày ở chợ trước tòa thị chính ấy."

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Chiếc gương châu Phi (Liliana Bodoc)



Có những thứ sẽ không bao giờ hoàn toàn thuộc về ta. Chẳng quan trọng việc ta được tặng chúng trong ngày sinh nhật, hay ta đã tốn nhiều tiền mua chúng, hay chúng là những món đồ thừa kế cũ của gia đình được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những vật này luôn có một mặt bị giấu đi, một cánh cửa kết nối tới những thế giới bí mật khác. Đó là những món đồ có các góc kín mà ta không lau chùi được, cũng không thể nhìn thấy hết. Những món đồ biến mất khi ta ngủ, rồi quay trở lại lúc bình minh. Như gương chẳng hạn. Chắc chắn chúng thuộc vào nhóm này. Hơn thế nữa: Nếu phải lên danh sách những đồ vật khó đoán biết, ương ngạnh và đáng sợ thì gương sẽ xuất hiện ngay vị trí đầu tiên. 

Người ta đã viết nhiều về chúng. Trong các bài thơ và truyện ngắn, trong truyện cổ tích và những câu chuyện rùng rợn. Người ta nói rằng những chiếc gương là cánh cửa dẫn tới những vùng đất chỉ có trong tưởng tượng. Người ta bảo chúng có thể nói thẳng vào mặt một mụ dì ghẻ ác độc sự thật, khi mụ ta hỏi: "Gương kia ngự ở trên tường, thế gian ai đẹp được dường như ta?"
Dù đúng là chuyện về những chiếc gương đã được kể rất nhiều, thì cũng sẽ chẳng bao giờ thiếu đi những điều mới mẻ để kể tiếp, vì cả thế giới có thể nằm gọn trong gương.
 
Câu chuyện này kể về một chiếc gương nhỏ, to không bằng lòng bàn tay, khung làm từ gỗ mun. Nó đã từng vượt biển và trở thành một phần trong nhiều câu chuyện, hay cũng có mà dở cũng có. Nó gắn kết số phận của những con người khác nhau ở những thời kì khác nhau.
Mở đầu chuyện, ta nhìn thấy một bầy ngựa vằn đang phi trong buổi hoàng hôn nhuốm đỏ và bụi bặm. Một khung cảnh xa xăm, đơn độc, tạo cảm giác giống như một bức họa nếu nhìn từ xa. Tuy nhiên, nó lại là sự pha trộn từ máu và thịt, từ âm nhạc và khát khao. Và rồi ta nghe thấy những âm thanh được gió mang tới.
Tam ...
Tam, tam.
Tam ...
Tam, tam.
Đó là những chiếc trống đang chuyện trò, thở than.
Tại sao lại là trống nhỉ?
Bởi vì câu chuyện về chiếc gương nhỏ với khung gỗ mun sáng bóng này bắt đầu ở châu Phi.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Câu chuyện cổ tích cuối cùng (Paul Keller)


Đến với những điều lạ kì



Vâng, tôi chính là công dân của thành phố này! Tôi làm việc và chơi ném ky (1), tôi đóng thuế và nhiếc mắng chính quyền thành phố, tôi là nhân viên đảm trách công tác về người nghèo và cùng với những người thuê nhà tuyên truyền phản đối các ông bà chủ nhà, có khi tôi còn tham gia Hội người tiêu dùng ấy chứ, nếu như ông anh rể doanh nhân của tôi cho phép.

Các bạn thấy đấy, những nét tính cách quan trọng bậc nhất đều hội tụ cả ở nơi tôi: tôi thực sự là một công dân của thành phố này! Chẳng phải nhân vật quan trọng nào hết, chẳng phải người giàu có, cũng không nằm trong số nhiều bậc thông thái, mà hoàn toàn chỉ là một trong những kẻ nghèo khó đáng thương cần làm tròn nghĩa vụ, kẻ ban ngày lúc nào cũng có điều để kêu ca, phàn nàn nhưng tối đến lại cười vui.

Cuộc sống ở thành phố chúng ta rất tuyệt, quả đúng thế! Tôi tin rằng đường phố chỗ chúng ta có lớp đá lát tốt bậc nhất trong tất cả các thành phố của vương quốc Phổ, chúng ta sản xuất ra một loại bia thậm chí còn được đem đi xuất khẩu, chúng ta có một vị giáo sư đã có bận được cả nước nhiếc móc, sở hữu một cái chuông cổ mà một thi sĩ đích thực trong lịch sử văn chương đã sáng tác cả áng thơ dài về nó. Tôi còn có thể kể thêm khối điều khác nữa, tuy nhiên, dù kể hay không kể thì ai cũng biết: tôi là người yêu quê hương. Đã có quãng thời gian mà mỗi tối từ lúc sáu giờ đến bảy giờ, tôi luôn nhớ thương về thành phố, ấy là quãng thời gian tám tuần lễ ròng xa nhà.

Các bạn, những người bạn của tôi, hẳn biết rằng tôi đã từng kể nhiều câu chuyện. Tất cả đều xảy ra trong cuộc sống của chúng ta, đều bắt rễ nơi con phố của chúng ta, đều mang hình hài xác thịt cũng như linh hồn của chính chúng ta. Tôi muốn trao cho những câu chuyện đó số phận của chúng ta.

Nhưng giờ ở trong cuốn sách này, tôi là một người khác, rời xa khỏi các bạn, rời xa thành phố và cuộc sống của chúng ta.

Đi thật xa… thật xa!

Tôi muốn tiết lộ cho các bạn một bí mật lớn, hỡi các bạn của tôi, một bí mật các bạn hãy vì tôi mà dành cho nó sự trân trọng.

Tâm hồn tôi có khả năng biến đổi: nó có thể trở thành một tâm hồn trẻ thơ trẻ trung, trong trắng, ngây thơ và tươi vui. Các bạn không biết đến nó đâu, các bạn chỉ biết đến loại tâm hồn khác kia… loại già cỗi. Tâm hồn trẻ thơ là thứ tôi chỉ có trong những chuyến chu du, khi đến những vùng đất xa xôi bất tận không một tấm biển chỉ đường bằng gỗ nào chỉ tới.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Những câu chuyện của cậu bé nghịch ngợm (Ludwig Thoma)

Cậu bé quý tộc

Có một gia đình đến ở nhà bác nông dân Scheck trong hè. Ấy là một gia đình rất quyền quý tới từ nước Phổ (1).
Khi va li, túi xách của họ đuợc đưa đến thì tôi đang ở nhà ga, nhân viên nhà ga bảo rằng chúng làm hoàn toàn từ da bò, hẳn những người này phải có khối tiền.
Mẹ tôi thì nói họ là những người cao quý, con luôn phải nhớ chào hỏi họ, Ludwig ạ.
Ông chồng có bộ râu trắng, đi đôi giày cao cổ phát ra những tiếng cót két ầm ĩ. Bà vợ chuyên đeo găng tay, và cứ đến chỗ nào nền đất ướt là bà ấy lại kêu "Ối!" một tiếng rồi nhấc váy lên.
Ngày đầu tiên ở đây, họ dành thời gian đi quanh làng. Ông chồng ngắm nghía nhà cửa trong làng rồi đứng lại. Tôi nghe được ông ấy nói: "Anh tò mò không hiểu người ở đây sống bằng gì."
Họ ghé qua nhà tôi vào buổi tối, đúng lúc cả nhà dùng bữa. Mẹ tôi cất tiếng chào, cả chị Anna cũng vậy. Thế là ông chồng cùng bà vợ lại gần, hỏi: "Bữa tối nhà chị có gì vậy?” Nhà tôi  ăn món phổi bê với bánh bao (2), và mẹ tôi nói lại thế. Ông ấy bèn thắc mắc có phải chúng tôi lúc nào cũng ăn món đấy không, trong khi bà vợ quan sát chúng tôi qua một cái kính cặp mũi. Thực ra nó không hẳn là kính cặp mũi mà được gắn vào một cái que nhỏ, bà ấy cứ gấp mở nó luôn.
Mẹ bảo tôi: "Đứng dậy chào ông bà đây đi, Ludwig!", tôi liền làm theo.
Ông chồng hỏi tôi đang học gì, tôi trả lời rằng mình học ở trường tiếng La-tinh (3). Mẹ liền kể: "Cháu nó vừa học hết lớp đầu và đã được lên lớp. Cháu đạt điểm 2 môn tiếng La-tinh (4) đấy ạ."
Ông chồng xoa đầu tôi, nói: "Cậu bé thông minh lắm; hôm nào cháu có thể tới nhà chúng ta chơi cùng Arthur nhà ta. Nó cũng bằng tuổi cháu."
Đoạn ông ấy hỏi mẹ là bà kiếm được bao nhiêu tiền một tháng, mẹ đỏ lựng mặt mày, đáp lại rằng 110 Mác.
Ông ấy quay qua nhìn vợ: "Emilie này, thế là còn chưa tới 40 Taler."
Bà vợ lại đưa kính lên trước mắt.
Sau rồi họ đi khỏi, tiếng ông chồng nói người khác vẫn còn nghe được: "Anh thật tò mò không hiểu người ở đây sống bằng gì nữa."
Hôm sau, tôi gặp thằng Arthur. Nó không cao bằng tôi, tóc dài chấm vai và hai chân cẳng gầy guộc. Tôi thấy được là bởi nó mặc quần phồng (5). Nó đi cùng một người có cặp kính trên sống mũi. Gia sư của nó. Hai người bọn họ đứng ở chỗ nhà ông già Rafenauer, nơi người ta đang chất đống cỏ khô.
Thằng Arthur chỉ tay, hỏi: "Những người đó đang làm gì thế? " Anh chàng gia sư bảo: "Họ đánh cỏ thành đống. Bao giờ cỏ đủ khô thì sẽ dùng làm thức ăn cho gia súc."
Thằng Lorenz nhà bác Scheck đang đứng cạnh tôi, bọn tôi đã phải giấu mình đi vì cười ghê quá.

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

Dì Toni và lũ trẻ (Alberta von Brochowska)


CHƯƠNG 1
Dì Toni tới!

Bà Wulff đang ngồi khâu vá cạnh cửa sổ. Bốn đứa con lớn của bà vẫn còn tụ tập quanh bàn dùng nốt bữa cà phê chiều.
"Khẩn trương lên các con", người mẹ giục, "để còn làm bài tập rồi vào chơi trong vườn  nữa."
"Con xong rồi ạ!", Kurt nói, bước đến cạnh mẹ bên cửa sổ. Từ đó nhìn ra, cậu bé trông thấy người đưa thư.
"Mẹ ơi, bác đưa thư kìa!", cậu bé reo lên phấn khích. "Ôi, con chạy nhanh xuống dưới nhé? Nhỡ đâu bác ấy mang thư của dì Toni đến thì sao."
"Ừ, đi đi. Nhưng hãy cư xử cho ngoan và đem bức thư còn nguyên vẹn lại đây. Con biết đấy, trẻ con mà mở thư của bố mẹ xem thì không hay đâu."
Kurt đỏ mặt, chạy vội đi. Chỉ một chốc sau cậu bé đã quay trở lại, hét lên như vừa thắng trận, tay giơ cao một bức thư: "Hu-ra, thư gửi từ Walden, chắc chắn là của dì Toni rồi!"
Cả bốn đứa trẻ chen nhau tới gần mẹ.
"Nhanh nhanh lên mẹ ơi, mẹ mở thư ra xem dì có đến không đi!"
"Yên nào, yên nào các con!", người mẹ mỉm cười, khẽ nạt, nhưng cũng vội vàng mở bức thư; chính bà cũng rất mong ngóng cô em gái tới chơi, việc này được lên kế hoạch từ lâu nhưng do sức khỏe của bố bà nên đã phải hoãn lại mấy lần.
Sau khi đọc nhanh hết một lượt lá thư, bà mừng rỡ: "Đúng rồi các con ạ, dì sẽ tới nhà mình, ngày mai luôn đấy nhé!"
Tin tức này được hưởng ứng bằng một tiếng hét vui sướng lớn đến nỗi người mẹ phải bịt tai lại.
"Ông ngoại có đi cùng không ạ?", Paul - anh em sinh đôi với Kurt - hỏi.
"Không đâu con, ông sẽ về nông thôn nghỉ ngơi mấy tuần ở chỗ cậu Karl và dì Klara. Bởi thế, lần này dì Toni có thể ở lại đây lâu hơn chút."
"Hu-ra, lần này dì sẽ ở chơi với chúng ta thật lâu!", Anna hét lên và quay tròn, nhún nhảy khắp phòng, trong khi Toni bé - con đỡ đầu của người dì - vừa vỗ tay vừa reo: "Ôi, vui quá, vui quá đi thôi!"
"Nghe này Paul", người mẹ giờ quay sang cậu bé, "con đến nhà cậu Robert ngay, báo rằng dì Toni sẽ tới. Vì cậu nhất định không rảnh để ra ga đón dì nên hãy mời cậu chiều mai đến uống trà hoặc cho chị giúp việc và hai em đến. Còn con, Kurt, mau chạy qua bên kia mời chú, dì với ba đứa lớn sang chơi. Hai đứa đừng có mà lề mề đấy, còn phải về học bài nữa, kẻo ngày mai ở trường lại bị quở mắng."
"Mẹ yên tâm, bọn con về ngay thôi!"
Và rồi như một cơn gió, hai cậu bé chạy ào xuống dưới nhà, lòng đầy hãnh diện khi được là người đưa một tin tức quan trọng nhường này.

Chuyến tàu chở dì Toni đến vào khoảng tầm ba giờ hôm sau;