* * *
Ở một thành phố
biển miền bắc nước Đức, trên con phố được gọi là Tăm Tối, có một ngôi nhà cũ
nát. Ngôi nhà tuy hẹp thôi nhưng có ba tầng; ở giữa, kéo dài từ dưới đất lên
gần đến đỉnh đầu hồi, tường nhà lồi ra thành một kiểu kiến trúc ban công vịnh có
xây cửa sổ đằng trước và hai bên cho mỗi tầng, để ánh trăng có thể chiếu vào
trong những đêm quang đãng. Từ lâu lắm rồi, chẳng có ai đi vào và cũng chẳng có
ai ra khỏi ngôi nhà này cả; cái vòng gõ cửa nặng nề bằng đồng thau trên cánh
cửa gần như phủ toàn gỉ xanh, giữa các kẽ đá bậc thềm nhà, cỏ mọc năm này qua
năm khác. Nếu có người lạ nào hỏi: "Nhà đó là nhà kiểu gì thế?" thì
chắc chắn anh ta sẽ nhận được câu trả lời: "Nhà Bulemann"; nhưng nếu anh
ta hỏi tiếp: "Ai sống ở đó?", người ta cũng sẽ lại đáp quả quyết:
"Chẳng ai sống ở đó hết." Lũ trẻ chạy chơi trên đường và các bà vú
nuôi ngồi bên nôi hát rằng:
Ở nhà Bulemann,
Ở nhà Bulemann,
Lũ chuột ngó lan
man
Qua cửa sổ ra tận
lan can.
Và quả thực, mấy
anh bạn vui tính đi ngang qua đó sau những bữa tiệc đêm đã nghe thấy tiếng ré
như của vô vàn con chuột đằng sau các cửa sổ tối đen. Một anh trong cơn cao
hứng đập cái vòng gõ cửa đặng nghe âm thanh dội lại qua những căn phòng trống
còn khẳng định mình nghe được rất rõ ràng tiếng nhảy nhót của những con thú lớn
trên cầu thang trong nhà. "Gần như là", anh chàng kể điều này thường
xuyên thêm vào, "tiếng nhảy của những con thú ăn thịt to lớn trong rạp
trưng bày ở chợ trước tòa thị chính ấy."
Ngôi nhà đối diện thấp hơn một tầng, thế nên, ban đêm ánh trăng có thể rọi thẳng qua các cửa sổ bên trên của ngôi nhà cũ kĩ. Xuất phát từ một đêm như thế, người đi tuần cũng có chuyện để kể; tuy nhiên, đấy chỉ là về một dung mạo người nhỏ, già nua, đội mũ chóp dài sặc sỡ mà người này nhìn thấy ở trên đó, sau những cửa sổ tròn của ban công vịnh. Ngược lại, hàng xóm ở đối diện lại cho là người đi tuần lại say xỉn đấy thôi; họ chưa bao giờ thấy bất cứ cái gì giống con người ở gần những cửa sổ nhà bên ấy cả. Thông tin cụ thể nhất có vẻ như có thể tới từ một người đàn ông lớn tuổi sống ở một khu phố cách xa đó, người nhiều năm trước từng chơi đàn đại phong cầm cho nhà thờ St. Magdalene. "Tôi còn nhớ rất rõ", ông ấy nói khi có lần được hỏi về chuyện này, "cái người đàn ông gầy gò sống một mình cùng một người phụ nữ lớn tuổi trong căn nhà đó, hồi tôi còn là một cậu bé. Ông ta giao dịch rất nhiều với bố tôi, một người buôn đồ cũ, trong suốt mấy năm liền và hồi ấy, tôi đã vài lần được cử đến chỗ ông ta cùng với các đơn đặt hàng. Tôi cũng nhớ là mình từng không thích đi qua những đoạn đường này và hay tìm đủ mọi cớ thoái thác; bởi vì ngay cả vào ban ngày, tôi cũng sợ phải đi lên mấy cái cầu thang hẹp, tối tăm để tới phòng ông Bulemann ở tầng ba. Mọi người gọi ông ta là "gã buôn người"; ngay cái tên đã khiến tôi sợ hãi rồi, chưa kể còn những lời đồn đại rợn người đủ kiểu về ông ta được lan truyền rộng rãi nữa. Ông ta đã nhiều năm theo tàu tới miền tây Ấn Độ với tư cách người đại diện giao hàng, trước khi chuyển về sống trong ngôi nhà cũ đó sau cái chết của bố ông ta. Ở đấy, ông ta lấy một người da đen; nhưng sau khi ông ta trở về rồi, người ta đã phải hoài công chờ đợi một ngày nào đó được trông thấy người vợ kia dẫn theo mấy đứa trẻ da màu. Người ta nhanh chóng kháo nhau là trên đường về, ông ta đã gặp một tàu chở nô lệ và đã gán máu mủ ruột thịt của mình cùng mẹ lũ trẻ cho thuyền trưởng tàu để đổi lấy vàng.
Ngôi nhà đối diện thấp hơn một tầng, thế nên, ban đêm ánh trăng có thể rọi thẳng qua các cửa sổ bên trên của ngôi nhà cũ kĩ. Xuất phát từ một đêm như thế, người đi tuần cũng có chuyện để kể; tuy nhiên, đấy chỉ là về một dung mạo người nhỏ, già nua, đội mũ chóp dài sặc sỡ mà người này nhìn thấy ở trên đó, sau những cửa sổ tròn của ban công vịnh. Ngược lại, hàng xóm ở đối diện lại cho là người đi tuần lại say xỉn đấy thôi; họ chưa bao giờ thấy bất cứ cái gì giống con người ở gần những cửa sổ nhà bên ấy cả. Thông tin cụ thể nhất có vẻ như có thể tới từ một người đàn ông lớn tuổi sống ở một khu phố cách xa đó, người nhiều năm trước từng chơi đàn đại phong cầm cho nhà thờ St. Magdalene. "Tôi còn nhớ rất rõ", ông ấy nói khi có lần được hỏi về chuyện này, "cái người đàn ông gầy gò sống một mình cùng một người phụ nữ lớn tuổi trong căn nhà đó, hồi tôi còn là một cậu bé. Ông ta giao dịch rất nhiều với bố tôi, một người buôn đồ cũ, trong suốt mấy năm liền và hồi ấy, tôi đã vài lần được cử đến chỗ ông ta cùng với các đơn đặt hàng. Tôi cũng nhớ là mình từng không thích đi qua những đoạn đường này và hay tìm đủ mọi cớ thoái thác; bởi vì ngay cả vào ban ngày, tôi cũng sợ phải đi lên mấy cái cầu thang hẹp, tối tăm để tới phòng ông Bulemann ở tầng ba. Mọi người gọi ông ta là "gã buôn người"; ngay cái tên đã khiến tôi sợ hãi rồi, chưa kể còn những lời đồn đại rợn người đủ kiểu về ông ta được lan truyền rộng rãi nữa. Ông ta đã nhiều năm theo tàu tới miền tây Ấn Độ với tư cách người đại diện giao hàng, trước khi chuyển về sống trong ngôi nhà cũ đó sau cái chết của bố ông ta. Ở đấy, ông ta lấy một người da đen; nhưng sau khi ông ta trở về rồi, người ta đã phải hoài công chờ đợi một ngày nào đó được trông thấy người vợ kia dẫn theo mấy đứa trẻ da màu. Người ta nhanh chóng kháo nhau là trên đường về, ông ta đã gặp một tàu chở nô lệ và đã gán máu mủ ruột thịt của mình cùng mẹ lũ trẻ cho thuyền trưởng tàu để đổi lấy vàng.
"Có bao
nhiêu sự thật trong những lời đồn đó thì tôi không thể nói được", ông già
thường hay thêm vào, "vì tôi cũng chẳng muốn quá mạo phạm đến một người đã
mất; thế nhưng, có một điều này thì tôi chắc chắn: ông ta là một người lập dị
hà tiện và nhát người; ngay cả đôi mắt ông ta trông cũng như đã từng chứng kiến
những hành động tàn ác vậy. Không một kẻ bất hạnh hay đang tìm kiếm sự giúp đỡ
nào được phép đặt chân lên ngưỡng cửa nhà ông ta; hồi xưa, mỗi lần tôi ở đấy,
luôn có sợi xích sắt được tròng qua cửa từ bên trong.
Nếu tôi phải đập cái vòng gõ cửa nặng nề thêm
lần nữa thì tôi sẽ nghe rõ tiếng mắng mỏ của ông chủ nhà vọng xuống từ cầu thang tầng cao nhất: "Bà
Anken! Bà Anken! Bà bị điếc à? Bà không nghe thấy tiếng gõ cửa à?" Lập
tức, có tiếng bước chân loẹt xoẹt của người phụ nữ lớn tuổi từ gian nhà sau qua
phòng chính và hành lang. Nhưng trước lúc mở cửa, bà ấy sẽ vừa hắng giọng vừa
hỏi: "Ai đấy?" Và chỉ khi tôi đáp lại: "Cháu là Leberecht!"
thì sợi xích sắt mới được tháo ra ở bên trong. Rồi sau đó, khi tôi vội vàng đi
lên bảy mươi bảy bậc cầu thang - vì đã có lần tôi đếm -, ông Bulemann sẽ thường
đứng chờ sẵn ở hành lang nhỏ nhập nhoạng tối trước phòng mình; căn phòng này ông
ta không bao giờ cho tôi bước chân vào. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh ông ta đứng
trước mặt tôi trong chiếc áo ngủ hoa vàng cùng chiếc mũ chóp dài nhọn hoắt, một
tay đưa ra sau giữ tay nắm cửa. Trong lúc tôi lo việc của mình, ông ta luôn sốt
ruột quan sát tôi bằng đôi mắt tròn sáng quắc rồi cộc cằn giao dịch với tôi.
Hồi ấy, thu hút sự chú ý của tôi nhiều nhất là mấy con mèo to đùng - một con
lông vàng, một con lông đen - thỉnh thoảng từ phía sau chen nhau ra khỏi căn
phòng và cọ cọ cái đầu béo núc của chúng vào đầu gối ông ta.
Tuy nhiên, sau
vài năm thì việc giao dịch của ông ta với bố tôi ngừng hẳn, tôi không tới đó
thêm nữa.
Tới giờ, tất cả
những chuyện này đã xảy ra được hơn bảy mươi năm, và ông Bulemann hẳn từ lâu
rồi đã được khiêng tới nơi mà từ đó không một ai quay trở lại."
Người đàn ông
đã nhầm khi nói thế. Ông Bulemann không hề bị khiêng ra khỏi nhà mình; ông ấy
hiện vẫn sống trong đó. Nhưng mọi chuyện cụ thể là như thế này. Trước ông ấy -
người chủ hiện tại -, vào khoảng cái thời của tóc giả và túi buộc, có một người
làm nghề cầm đồ sống trong ngôi nhà đó, một người đàn ông lớn tuổi thấp bé, bị gù.
Bởi ông ta đã làm nghề này hơn mười lăm năm và sống hết sức tằn tiện cùng với
một người phụ nữ giúp lo liệu việc trong nhà kể từ sau cái chết của vợ ông ta,
nên cuối cùng ông ta cũng trở thành người giàu có. Sự giàu có này tuy nhiên chủ
yếu lại tồn tại dưới dạng một số lượng gần như không thể đếm xuể các món đồ giá trị, dụng cụ máy móc cùng những thứ đồ cũ kì lạ nhất, tất cả đều là
đồ cầm cố ông ta nhận trong nhiều năm trời từ những người tiêu xài hoang phí
hoặc đang trong cơn túng quẫn, rồi khi việc trả lại khoản tiền vay mượn tương
ứng không được thực hiện thì chúng nằm lại dưới quyền sở hữu của ông ta.
Vì trong
trường hợp bán những món đồ cầm cố này - một quy trình theo luật buộc phải diễn
ra ở tòa án -, ông ta sẽ phải trao khoản dư từ lợi nhuận thu được cho những
người chủ sở hữu của chúng, nên ông ta đã chọn cách chất đống chúng vào những
cái tủ to bằng gỗ cây quả kiên và những cái tủ sử dụng vào mục đích này dần dần
chiếm lĩnh hết các phòng của tầng thứ nhất rồi đến cả tầng thứ hai. Song vào
ban đêm, lúc mà bà Anken đã say ngủ trong căn phòng nhỏ đơn độc của mình ở gian
nhà sau và sợi xích nặng đã quấn quanh cửa, ông ta thường khẽ khàng đi lên đi
xuống cầu thang. Cuốn mình trong chiếc áo choàng màu xám xanh, một tay cầm đèn,
tay kia cầm chùm chìa khóa, ông ta mở cửa và mở tủ các phòng lúc thì ở tầng thứ
nhất, lúc thì ở tầng thứ hai, lấy ra ở chỗ này một đồng hồ nhắc giờ bằng vàng,
ở chỗ kia một hộp tráng men đựng bột thuốc lá và nhẩm tính số năm sở hữu chúng,
tính xem liệu những người chủ cũ đã lụn bại, mất tăm mất tích hay còn có khả
năng mang tiền quay lại đây để đòi lại đồ cầm cố của họ.
Đến cuối cùng,
ông cầm đồ rời xa vĩnh viễn các báu vật của mình vào cái tuổi cực kì già lão,
phải để lại ngôi nhà cùng toàn bộ các tủ đầy chật cho người con trai duy nhất
mà lúc còn sống, ông ta đã bằng mọi cách giữ cho tránh xa số của cải này. Người
con trai này là người đại diện giao hàng trên tàu mà cậu bé Leberecht rất sợ,
người đã trở lại thành phố quê hương cũng sau một chuyến đi vượt đại dương.
Chôn cất người bố xong, người con ngừng hẳn những công việc trước đây của mình
và chuyển vào sống trong căn phòng của ông bố tại tầng thứ ba của ngôi nhà cũ có ban công vịnh, nơi mà giờ thay vì người đàn ông gù thấp bé trong chiếc áo choàng xám
xanh là một dáng người cao, gầy gò trong chiếc áo ngủ hoa vàng và mũ chóp dài
sặc sỡ đi qua đi lại hoặc đứng tính toán bên cái bàn cao của người quá cố. - Sự
yêu mến của người cầm đồ già đối với những thứ đồ giá trị chất đống trong tủ đã
không truyền lại được cho ông Bulemann. Sau khi đóng chặt cửa rả kiểm kê đồ đạc
trong các tủ to bằng gỗ cây quả kiên, ông ấy suy xét kĩ càng xem có nên liều bí
mật bán những thứ này đi hay không, những thứ vốn vẫn luôn là tài sản của người
khác và ông ấy chỉ có quyền hưởng phần giá trị tương đương với giá trị khoản nợ
tiền vay được thừa kế và - theo như trong sổ sách - thường là rất ít ỏi. Nhưng
ông Bulemann không thuộc kiểu người thiếu quyết đoán. Chỉ trong vòng vài ngày,
mối liên hệ với một người buôn đồ cũ sống ở khu ngoại ô ngoài cùng thành phố đã
được thiết lập, và sau khi vài món đồ cầm cố của những năm gần đây được giữ
lại, số tài sản đủ chủng loại trong những cái tủ to đã được biến đổi một cách
bí mật, cẩn trọng thành những đồng tiền bạc nguyên chất. Đó là khoảng thời gian
cậu bé Leberecht ghé qua ngôi nhà.
Số tiền thu
được ông Bulemann cất trong các hòm bọc sắt lớn đặt cạnh nhau trong phòng ngủ
của ông ấy; bởi không có quyền sở hữu hợp pháp tài sản nên ông ấy không dám dùng
để vay tín dụng hay đầu tư công khai. Khi việc mua bán đã xong, ông ấy bắt tay
vào tính toán toàn bộ những khoản chi tiêu có thể nghĩ ra cho quãng đời ước
chừng còn lại của mình. Ông ấy ước tính đến độ tuổi chín mươi và chia tiền
thành những gói nhỏ dành cho mỗi tuần, thêm một chồng tiền nhỏ cho mỗi quý để
dùng vào những khoản phát sinh. Riêng số tiền này lại được để trong một hòm đặt
ở phòng sinh hoạt ngay bên cạnh; sáng thứ bảy nào bà Anken, bà quản gia lớn tuổi ông
ấy tiếp nhận từ gia sản người bố để lại, cũng có mặt để nhận một gói tiền mới
và báo cáo chi tiêu đối với gói tiền trước. Như đã kể, ông Bulemann không dẫn
vợ và con cái về cùng; thay vào đó, hai con mèo đặc biệt to lớn - một con lông
vàng, một con lông đen - được một thủy thủ đưa từ tàu đến ngôi nhà trong một
cái bao buộc chặt, vào ngày mai táng ông cầm đồ già. Hai con vật này nhanh
chóng trở thành những bạn duy nhất của ông chủ nhà. Buổi trưa, chúng nhận được
tô ăn riêng mà bà Anken ngày nào cũng phải nhăn nhó bực bội chuẩn bị cho chúng;
sau bữa ăn, trong lúc ông Bulemann có giấc ngủ ngắn buổi trưa thì chúng ngồi no
nê trên ghế bành cạnh ông ấy, thè lưỡi ra và ngái ngủ chớp chớp mấy con mắt
xanh lè với ông ấy. Nếu đang trong công cuộc săn chuột ở trong các phòng tầng
dưới của ngôi nhà, công việc luôn khiến chúng phải hứng chịu một cú đá chân bí
mật của người phụ nữ lớn tuổi, nhất định chúng sẽ tha mấy con chuột vồ được trong
tình trạng bị ngoạm đến chỗ ông chủ chúng trước tiên và cho ông ấy thấy, trước
khi trườn xuống gầm ghế bành thưởng thức lũ chuột. Khi đêm đã xuống và ông
Bulemann đã thay chiếc mũ chóp dài sặc sỡ bằng một chiếc màu trắng, ông ấy sẽ
cùng với hai con mèo của mình đi tới cái giường lớn có rèm treo ở buồng
bên, nơi ông ấy sẽ để những tiếng gừ gừ đều đều của hai con vật đang vùi đầu
dưới chân mình ru mình vào giấc ngủ.
(còn tiếp...)