Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Không quê nhà ... Bên hồ Sils và hồ Garda (Johanna Spyri)


Chương 1
Trong ngôi nhà tĩnh lặng

Nằm ở vùng thượng của thung lũng Engadin, kề bên con đường lớn đi lên phía đèo Maloja là một ngôi làng nhỏ đơn độc mang tên Sils. Rời khỏi đường lớn, đi chéo qua làng, và ở phía đằng sau, rất gần với  những ngọn núi, ta bắt gặp một chốn nhỏ xinh tên là Sils-Maria. Tại đây có hai căn nhà nhỏ được xây đối diện nhau, hơi tách sang một bên cánh đồng. Cửa ra vào cả hai nhà đều làm bằng gỗ, đã rất xưa cũ, mấy cửa sổ bé xíu thì nằm phía sâu trong tường. Một trong hai căn nhà có khoảnh vườn trồng toàn các loại rau họ cải, ngoài ra còn đặt thêm bốn chậu hoa, tuy nhiên trông chúng khẳng khiu và lớn nhanh chẳng khác gì đám rau. Căn nhà còn lại chỉ có độc một cái chuồng con con cạnh cửa, với hai cô gà mái quanh ra quanh vào. Nó nhìn khá khiêm tốn so với căn kia, cánh cửa gỗ sạm đen lại vì năm tháng.
Từ sau cánh cửa này, sáng nào cũng vào một giờ nhất định, luôn có một người đàn ông cao lớn bước ra - người phải cúi xuống mới đi qua cửa được. Người đàn ông cao lớn có mái tóc đen bóng, mắt đen, dưới chiếc mũi thanh tú còn tọa lạc thêm bộ râu đen, xum xuê đến nỗi chẳng thể trông thấy gì khác trên phần còn lại của gương mặt người này ngoài hàm răng trắng sáng lóe lên giữa bộ râu mỗi khi anh nói; song, anh lại rất ít khi mở lời. Ai ai ở làng Sils cũng biết anh, nhưng không người nào gọi anh bằng một cái tên, mà với họ, anh chỉ là "anh người Ý". Anh thường đi con đường hẹp chếch về hướng làng Sils và lên phía đèo Maloja. Ở đó có nhiều công trình được xây dựng bên đường lớn, cũng là chỗ anh làm việc. Khi không đi lên phía trên, anh sẽ xuống khu nghỉ dưỡng St. Moritz; tại đấy, người ta xây nhà xây cửa, còn anh thì cũng tìm được việc để làm. Anh lưu lại chỗ ấy cả ngày, chỉ quay về ngôi nhà nhỏ vào buổi tối. Thông thường, mỗi lần anh bước ra khỏi cửa, luôn có một cậu bé ở đằng sau anh; cậu bé đứng trên bậu cửa, lúc cha đã ở bên ngoài, dõi theo cha một hồi lâu bằng đôi mắt to, sẫm màu, hoặc nhìn đi đâu đó, chẳng ai đoán được, bởi có cảm giác như đôi mắt sẫm màu ấy vượt lên tất cả mọi cảnh vật ở trước mặt và hướng đến một thứ gì đó không ai có khả năng nhìn thấy.
Vào những chiều chủ nhật mặt trời tỏa nắng, thỉnh thoảng hai cha con lại ra khỏi nhà, cùng sánh bước trên con đường dẫn lên ngôi làng. Và nếu quan sát họ lúc này, ta sẽ chỉ thấy những nét giống hệt nhau, có chăng những nét đó được thu nhỏ lại ở cậu con trai mà thôi, còn thì cậu bé như được đúc khuôn từ người cha, từ chân lên tới tận bộ râu đen - thứ cậu không có, thay vào đó là một khuôn mặt hẹp, tai tái với chiếc mũi thanh tú ở giữa, quanh miệng phảng phất nét buồn rầu như thể cậu chẳng thích cười. Riêng điểm này thì không thấy được ở người cha, vì bộ râu đã che mất rồi.
Khi đi cạnh nhau, hai cha con không trao đổi lời nào; thường thường, người cha khẽ lẩm nhẩm một bài hát, đôi khi ngâm nga lớn hơn một chút, còn cậu con trai thì lắng nghe. Nếu ngày chủ nhật trời mưa, người cha sẽ ngồi trong nhà, trên chiếc ghế dài bên cửa sổ, cậu bé con ngồi bên, cả hai cũng lại không trò chuyện gì. Tuy nhiên, người cha sẽ rút ra một chiếc kèn hác-mô-ni-ca, thổi hết giai điệu này tới giai điệu khác, cậu bé say sưa lắng nghe. Cũng có lúc, anh tạo ra những giai điệu từ một chiếc lược hay lá cây, lại có khi cưa một mẩu gỗ theo hình dạng nào đấy, rồi dùng nó để thổi một khúc nhạc. Tưởng chừng như chẳng có vật gì anh không thể biến thành nhạc cụ được vậy. Nhưng có lần, anh đem về nhà một cây vĩ cầm, thứ khiến cậu bé thích mê đến mức sẽ chẳng bao giờ có thể quên được. Người cha đã kéo nhiều bản nhạc, nhiều giai điệu bằng cây vĩ cầm ấy, còn cậu bé - khác với mọi khi - ngắm nhìn cảnh tượng đó, chứ không chỉ lắng nghe; tới lúc cha đặt cây đàn sang một bên, cậu liền khẽ khàng cầm lấy, thử xem làm thế nào tạo ra được những giai điệu từ cây đàn. Cậu chắc đã chơi không tồi chút nào, vì người cha đã nở nụ cười và bảo: "Lại đây con!", đoạn, anh đặt những ngón tay to lớn của bàn tay trái lên những ngón tay nhỏ nhắn của đứa con, tay phải anh nắm lấy tay con cùng với cây vĩ, thế rồi suốt một hồi khá lâu, hai cha con đã cùng nhau tấu lên vô số giai điệu. Những ngày sau, cứ khi cha đi làm là cậu bé lại miệt mài tập cho tới khi hình thành nên được một giai điệu hoàn chỉnh; nhưng tới một ngày, cây đàn đột nhiên biến mất, chẳng bao giờ còn thấy lại nữa.
Thỉnh thoảng, vào những lúc hai cha con ngồi cạnh nhau như thế, người cha lại hát, tiếng hát ban đầu chỉ nho nhỏ, rồi cứ lớn dần lên, một khi anh đã nhập tâm. Thế là cậu bé cũng hòa giọng, những câu nào không thể hát theo được, cậu bé vẫn ngâm nga nhạc; đó là do cha cậu luôn hát tiếng Ý, cậu hiểu được khá nhiều nhưng ngôn ngữ ấy cậu lại không thực sự quen thuộc và thành thạo để hát. Tuy vậy, có một giai điệu cậu bé hát được hay hơn mọi giai điệu khác, bởi cha đã hát cho cậu nghe không biết bao lần. Nó thuộc về một bài hát dài được bắt đầu như thế này: "Una sera In Peschiera" - Nó là một giai điệu đầy hoài niệm, được sáng tác cho bản tình ca thú vị đó, cậu bé đặc biệt yêu thích nó nên luôn hát theo một cách hào hứng và tuyệt đối nhập tâm, giai điệu vang lên rất hay, bởi vì cậu có một chất giọng cao, trong veo, hòa trộn tuyệt vời với giọng nam trầm mạnh mẽ của người cha. Lần nào cũng vậy, khi bài hát kết thúc, người cha luôn vui vẻ vỗ vai cậu và bảo: "Bene, Enrico, va bene." Chỉ mình anh gọi cậu bé như vậy thôi, còn mọi người đều gọi một cách đơn giản là "Rico". 
Hồi đó, trong ngôi nhà nhỏ còn có một người bác sống cùng hai cha con cậu bé, bác may vá, nấu nướng và giữ cho nhà cửa ngăn nắp. Mùa đông, bác ngồi bên lò sưởi quay sợi, Rico những lúc ấy luôn phải tính cách đi lại làm sao cho ổn, vì hễ cứ mở cửa ra là bác lại nói: "Để cái cửa được yên đi, trong phòng sẽ lạnh lắm đấy." Cậu bé thường xuyên phải ở nhà một mình với bác trong thời gian dài. Mùa này, người cha làm việc đâu đó dưới thung lũng và không trở về hàng tuần liền.